Sài Gòn - Thành phố ngã ba đường

Ngày đăng: 25/07/2019

Địa điểm nổi tiếng


            Ngay từ thời phong kiến, Sài Gòn cùng với thành Gia Định đã có một vai trò rất quan trọng đối với an ninh, quốc phòng của cả nước và là trung tâm kinh tế quan trọng ở phía Nam của Việt Nam. Đến thời Pháp thuộc, Sài Gòn – Gia Định lại còn được mệnh danh là “hòn ngọc viễn Đông”, là trung tâm chính trị lớn trong hệ thống chính quyền của quân Pháp ở Đông Dương.

            Ngoài ra, Sài Gòn – Gia Định nằm bên dòng sông Sài Gòn cho nên có điều kiện thuận lợi cho giao lưu văn hóa. Với vị trí như vậy, nơi đây có các thương cảng được xem như cửa ngõ giao thương với các nước trong khu vực và quốc tế . Từ thế kỷ XVIII, thương cảng Sài Gòn đã là một nơi buôn bán tấp nập, trù phú, “là chỗ đô hội thươngthuyền của các nước, cho nên trăm món hàng hoá đều tụ về đây”[1]. Năm 1860, thực dân Pháp đã cho xây dựng một bến cảng trên bờ sông Sài Gòn và kết hợp với cảng Sài Gòn- Chợ lớn để biến nơi này trở thành chốn vận chuyển lúa gạo, hàng hoá và vũ khí không chỉ ở Nam bộ mà cho cả khu vực Đông Nam Á lúc bấy giờ. Nguyễn Phan Quang đã có nhận xét về vai trò của cảng Sài Gòn: “Sài Gòn không chỉ là một điểm dừng chân như Singapore mà trở thành đầu mối của các tuyếnhàng hải từ Châu Âu sang Viễn Đông”[2]

Sài Gòn - Thành phố ngã ba đường            Đây chính là những điều kiện (đặc biệt) để Sài Gòn - Gia Định vươn mình đón nhận nhiều luồng văn hoá từ Đông sang Tây trong suốt hơn 300 năm qua.

Sài Gòn - Thành phố ngã ba đường

Sài Gòn - Thành phố ngã ba đường

            Vùng đất bao gồm cả Sài Gòn – Gia Định, xưa kia thuộc vương quốc Phù Nam, nằm ở vị trí tiếp giáp với các quốc gia cổ xung quanh nên cũng có mối quan hệ với các tiểu quốc này và trở thành nơi gặp gỡ của nhiều cộng đồng dân cư. “Qua các tư liệu lịch sử hay hiện vật khảo cổ tuy còn nhiều hạn chế nhưng nhiều học giả trong và ngoài nước đã ghi nhận ở miền đất này đã là nơi gặp gỡ, nơi đầu mối giao lưu với các dân tộc (“Carrefour des peuples”) ”[3]. Thế kỉ XVII, trong khoảng thời gian 75 năm từ 1623 đến 1698 đã có khoảng 5 đợt di dân lớn của người Việt vào vùng đất mới này. Những người Việt đầu tiên từ miền Trung (Đàng Trong) và miền Bắc (Đàng Ngoài) đã tự động rủ nhau vào khai hoang lập ấp ở vùng đất này mà hoàn toàn không có sự tổ chức của triều đình nhà Nguyễn.Từ đó, khu vực Sài Gòn – Gia Định bắt đầu xuất hiện những người Việt định cư. Trong khi trước đó, “tại đây đã có sự tồn tại độc lập của một vài sắc dân thiểu số bản địa như Khmer, Chăm, Ché Mạ, Mnông…”[4].Cuối năm 1679, chúa Nguyễn Phúc Tần đã cho phép những người Hoa là thần dân nhà Minh do Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch dẫn đầu đến lánh nạn và khai hoang lập ấp ở Mỹ Tho, Biên Hòa và Sài Gòn.

Sài Gòn - Thành phố ngã ba đường

            Với vài nét phác thảo cơ bản như vậy, có thể thấy được Sài Gòn – Gia Định nói riêng và Nam Bộ nói chung là vùng đất của nhiều đợt di cư, của nhiều luồng văn hóa hội tụ. Theo định nghĩa của UNESCO, “thành phố ngã ba đường” là dạng đô thị mang nhiều nét văn hóa, chủng tộc, với lịch sử hình thành được đánh dấu bằng các đợt nhập cư từ nhiều xứ sở, địa phương, liên tục đổ về lập nên một thế giới thu nhỏ. Các cộng đồng đó sinh sống bên cạnh nhau hoặc đan xen vào nhau[5]. Vậy, xét theo nội hàm của định nghĩa này thì Sài Gòn – Gia Định chính là một “thành phố ngã ba đường”.

Trần Thị Tuyết Sương – Phó khoa khoa Du lịch

           




[1]Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh (1992), Văn hoá dân gian của người Việt ở Nam bộ, NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội.

[2]Nguyễn Phan Quang (1998), Góp thêm tư liệu về Sài Gòn – Gia Định 1859 – 1945, NXB. Trẻ, TP.HCM.

[3]Trung tâm Khoa học xã hội & nhân văn TP. Hồ Chí Minh (1999), Lược sử 300 năm Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh (1698 - 1998), NXB. Trẻ, TP.HCM.

[4]Đặng Thái Hoàng - Nguyễn Văn Đỉnh (2010), Văn hóa và kiến trúc phương Đông, NXB. Xây Dựng, Hà Nội.

[5]Nguyễn Đức Hiếu (2008), Sự hội nhập văn hóa bản địa trong kiến trúc nhà thờ Công giáo tại Thành phố Hồ Chí Minh, Trường Đại học Kiến trúc TP.HCM, TP.HCM.


Các tin khác