Đổi mới tư duy về giáo dục nghề nghiệp đối với ngành Du lịch tại BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn

Ngày đăng: 12/10/2017

Lư Nguyễn Xuân Thanh Giảng viên - Khoa Du lịch


Tóm tắt

Trước đây, đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Ngày nay, theo UNESCO, ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: Kiến thức, kỹ năng và thái độ. Đổi mới tư duy, bắt đầu từ việc đổi quan niệm đào tạo kỹ năng, kiến thức nghề thành việc đào tạo năng lực của con người.

Keywords: năng lực con người; kiến thức, kỹ năng, thái độ

 

1. Mở đầu

Theo thống kê của Bộ LĐ-TB&XH, tỷ lệ sinh viên ra trường làm trái ngành là 60%, theo nghiên cứu của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 70% sinh viên ra trường làm trái ngành nghề. Những con số này cho chúng ta một báo động về việc định hướng và giáo dục nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên. Xét về nguồn lực tài chính, việc sinh viên làm trái ngành nghề khi ra trường là sự lãng phí lớn về tiền bạc, công sức của sinh viên, gia đình và nhà trường. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này, trong đó không thể không kể đến hai nguyên nhân quan trọng nhất, một là bản thân sinh viên cảm thấy mình không phù hợp với ngành nghề đã được đào tạo nên chủ động lựa chọn công việc phù hợp hơn với năng lực và sở thích, hai là sinh viên có mong muốn làm việc đúng với chuyên ngành nhưng do bản thân không đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp nên không thể tìm được việc làm như mong muốn, đành lựa chọn một công việc khác để mưu sinh, và sau khi đã lựa chọn một công việc khác, vì nhiều nguyên nhân khác nhau mà việc quay trở lại làm đúng ngành nghề đối với các em trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Do đó, để thay đổi thực trạng này, các cơ sở đào tạo nghề đóng vai trò rất quan trọng trong việc định hướng nghề nghiệp đúng đắn cho sinh viên và chủ động xây dựng chương trình đào tạo gắn liền với nhu cầu của doanh nghiệp, đồng thời đóng vai trò kết nối giữa người học và nhà tuyển dụng.

Trong quá trình đó, song song với việc cung cấp kiến thức lý thuyết, chúng ta chú trọng đào tạo kỹ năng nghề, giúp cho sinh viên vững nghề, nhằm hạn chế tình trạng doanh nghiệp phải đào tạo và tái đào tạo trong quá trình sử dụng lao động. Tuy nhiên theo kết quả nghiên cứu của trang http://careerbuilder.vn, một trong những website việc làm lớn tại Việt Nam, người lao động không được tuyển dụng, nguyên nhân không hoàn toàn do họ thiếu năng lực nghề nghiệp, mà do họ thiếu kỹ năng mềm và thái độ làm việc tích cực. Đây lại là những nội dung mà hầu hết các chương trình đào tạo chính quy hiện nay chưa chú trọng.

2. Thực tế đáng báo động

Theo kết quả nghiên cứu, có khoảng 30% sinh viên các ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học – hướng dẫn du lịch của BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn hiện đang là hướng dẫn viên cộng tác của các công ty Du lịch vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Các em chủ yếu dẫn tour ngắn ngày, đối tượng khách chủ yếu là học sinh tiểu học và trung học cơ sở. Hoạt động trên tour tập trung vào việc hoạt náo, ít thuyết minh kiến thức chuyên sâu. Có hơn 30% số sinh viên này xác định sau khi ra trường sẽ xin cấp thẻ để tiếp tục phát triển hơn với nghề hướng dẫn, số còn lại đều xác định đây là công việc tạm thời, sau khi tốt nghiệp sẽ tìm một công việc khác ổn định hơn.

Việc sinh viên tiếp cận với nghề nghiệp từ khi còn đi học đã đem lại nhiều hiệu quả tích cực cho quá trình dạy và học. Tuy nhiên, nó cũng đem lại một mặt trái đáng kể, đó là việc sinh viên sau khi tiếp xúc thực tiễn nghề nghiệp, gặp gỡ một số người đi trước, được truyền đạt thông tin lệch lạc, đã trở nên coi thường việc học tập tại trường, nghi ngờ kiến thức mà giảng viên truyền đạt trên lớp. Một số sinh viên còn thẳng thắn cho rằng việc học tại trường không đem lại hiệu quả gì khi đi làm, nghề Du lịch là nghề học nghề chứ không cần thiết phải học tập lý thuyết trên lớp, nhất là khi một số “đàn anh” không hề học đúng ngành nhưng vẫn có thể làm tốt công việc.

Từ suy nghĩ đó, sinh viên bắt đầu lơ là việc học tập. Đa số sinh viên xem việc đến trường là “phải đi học”, nên em không hề có ý thức về việc mình phải trả tiền để được đi học, dẫn đến tình trạng sinh viên đi học trễ, không tập trung trong giờ học đã trở nên báo động, các em xem việc nghỉ học là “được nghỉ” chứ không hề có suy nghĩ là “bị nghỉ”. Tỷ lệ sinh viên đến lớp vì điểm danh ngày càng chiếm tỷ lệ cao.

Chính vì vậy, một tỷ lệ lớn sinh viên mất dần mục tiêu học tập của mình. Các em học chủ yếu là để thi qua môn, sau đó kiến thức của thầy lại trả cho thầy. Việc thiếu kiến thức nền, thiếu tinh thần tự học dẫn đến hệ lụy là sinh viên khó theo kịp kiến thức, sau đó lại đổ lỗi cho giảng viên dạy khó hiểu, đổ lỗi cho môn học không có tính ứng dụng khi đi làm…

Chính vì vậy, tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học – hướng dẫn du lịch tại BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn làm đúng ngành chiếm tỷ lệ dưới 50%. Trong số đó, có một số sinh viên vẫn chưa lấy được bằng tốt nghiệp và sau một thời gian đi làm, sinh viên không có ý định quay về trường để trả nợ môn và thi tốt nghiệp. Những sinh viên làm đúng chuyên ngành thường chật vật với việc bám trụ với nghề trong vòng 2 năm đầu sau khi tốt nghiệp, những trường hợp vượt được qua giai đoạn này thì mới tiếp tục theo nghề, số sinh viên không vượt qua được 2 năm đầu thường lựa chọn chuyển qua một công việc khác.

3. Giải pháp nào cho tình trạng trên?

Thực tế đã chỉ ra rằng, sinh viên Du lịch của BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn không hề kém về kiến thức, kỹ năng. Những sinh viên thành công sau khi tốt nghiệp tại Trường rất nhiều. Đó cũng là nguyên nhân giúp cho BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn trở thành một trong những địa chỉ đào tạo ngành Du lịch uy tín trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng những năm gần đây, tỷ lệ sinh viên ngành du lịch tốt nghiệp đúng thời hạn chiếm tỷ lệ thấp dần. Một trong những nguyên nhân, theo tác giả, là do tư duy nghề nghiệp của sinh viên chưa vững vàng. Để cải thiện tình trạng này, cần phải bắt đầu từ việc thay đổi tư duy của những người làm công tác đào tạo.

Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm đào tạo đề cập đến việc dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định. Từ khái niệm đó, có thể thấy, theo lối tư duy cũ, đào tạo nghề chủ yếu để tập trung vào việc dạy kiến thức và kỹ năng. Đã đến lúc thay đổi, cần đào tạo hoàn thiện kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho người học.

Theo UNESCO, ba thành tố hợp thành năng lực của con người là: Kiến thức, kỹ năng và thái độ.

Đổi mới tư duy về giáo dục nghề nghiệp đối với ngành Du lịch tại BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn

Hình 1: Mô hình năng lực ASK

Trong đó:

- Thái độ (Attitude): thuộc về phạm vi cảm xúc, tình cảm (Affective)

- Kỹ năng (Skills): kỹ năng thao tác (Manual or physical)

- Kiến thức (Knowledge): thuộc về năng lực tư duy (Cognitive)

Theo đó, Sự yếu kém xuất hiện khi:

- Kiến thức tốt nhưng Kỹ năng yếu thì Năng lực làm việc sẽ kém và có vấn đề

- Kỹ năng tốt nhưng Thái độ yếu thì khả năng cam kết công việc không cao

- Kiến thức tốt nhưng Thái độ yếu dẫn đến tầm nhìn mơ hồ và thụ động

Hai yếu tố sau thuộc về kỹ năng sống, có vai trò quyết định trong việc hình thành nhân cách, bản lĩnh, tính chuyên nghiệp. Trong đó kiến thức chiếm 4%, kỹ năng chiếm 26 %, thái độ chiếm 70%.

 Đổi mới tư duy về giáo dục nghề nghiệp đối với ngành Du lịch tại BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn

Hình 2: Mô hình tam giác năng lực ASK (Attitude – Skills – Knowledge)

Trong việc đào tạo năng lực nghề nghiệp cho sinh viên, nhà trường đóng vai trò quan trọng. Chúng ta đang dùng hầu hết thời gian của việc đào tạo để trang bị cho sinh viên những thành tố quyết định 30% thành công của sinh viên sau khi ra trường mà bỏ qua thành tố quyết định đến 70%. Thái độ tích cực là cách thức chúng ta tiếp cận và phản ứng với môi trường xung quanh, không phụ thuộc vào trình độ chuyên môn, kiến thức. Và thái độ tích cực không phải là yếu tố bẩm sinh, tức là hoàn toàn có thể được đào tạo và rèn luyện. Tất nhiên, rèn luyện thái độ là một công việc vất vả, cần nhiều thời gian và cần có định hướng đúng.

Trong khuôn khổ của bài viết này, tác giả chỉ đề cập đến việc đào tạo trong ngành Du lịch, trường hợp chuyên ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Việt Nam học – hướng dẫn du lịch.

4. Ứng dụng trong đào tạo nghề Du lịch tại BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn

4.1. Kiến thức

Ngành Du lịch là một ngành đặc thù, với rất nhiều kiến thức tổng hợp mà có thể nói, không chương trình đào tạo nào có thể “tải” hết được.

Sinh viên cần có kiến thức về địa lý, lịch sử, văn hóa, xã hội… Đây đều là những kiến thức mà sinh viên đã được trang bị đầy đủ từ trường phổ thông. Nhiệm vụ của chúng ta là giúp sinh viên hệ thống lại kiến thức và thay đổi tư duy học vẹt, học gạo, học để thi của sinh viên. Thay vì dạy kiến thức, hãy dạy sinh viên cách tiếp cận kiến thức. Thay vì ép sinh viên học, hãy chỉ ra cho sinh viên thấy, nếu không học, họ sẽ phải đối diện với những khó khăn nào khi ra trường làm việc.

Ví dụ, môn lịch sử. Giảng viên không có trách nhiệm đọc cho sinh viên chép toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam, để rồi khi sinh viên không nhớ được, thì đổ lỗi cho giảng viên dạy không tốt. Những kiến thức này sinh viên đã học từ trường phổ thông, lên bậc đào tạo cao hơn, giảng viên chỉ đóng vai trò hệ thống kiến thức, hỗ trợ sinh viên tiếp cận nguồn tài liệu chính thống và giúp sinh viên nhận thức được vai trò quan trọng của việc học tập lịch sử đối với nghề du lịch. Từ đó, sinh viên sẽ có thái độ học tập nghiêm túc hơn và chủ động tìm hiểu thêm, biến kiến thức đã được học thành vốn kiến thức của mình. Đây là điều kiện tiên quyết để sinh viên có thể học tốt các môn chuyên ngành như Thuyết minh du lịch, hướng dẫn du lịch. Sinh viên không thể bước vào học các môn này mà chưa được trang bị và tự trang bị kiến thức về văn hóa, lịch sử, địa lý. Ở các môn chuyên ngành, giảng viên chỉ dạy kỹ năng, để sinh viên sử dụng kiến thức của mình, kết hợp với các kỹ năng được học để có thể làm tốt công việc của mình, giảng viên các môn chuyên ngành không đủ thời gian và kiến thức để trang bị lại từ đầu cho sinh viên.

Trong việc thi kết thúc môn, ngoài những câu hỏi mang tính chất lý thuyết có sẵn trong giáo trình để kiểm tra việc sinh viên nhớ bài học, cần có những câu hỏi mang tính ứng dụng thực tiễn để kiểm tra việc sinh viên hiểu bài và biết cách vận dụng vào thực tế công việc và cuộc sống, đồng thời kiểm tra việc sinh viên tập trung nghe giảng trên lớp. Cần thay đổi cái thực tế mà sinh viên vẫn truyền miệng nhau về “công thức” để đạt điểm trong các bài thi trắc nghiệm là “thấy quen quen thì đánh vào”, “cứ tất cả đều đúng là đúng đấy”,… và thay đổi thói quen học tủ, thậm chí là quay cóp để có thể viết đủ nội dung có trong tài liệu vào bài thi là có thể thi đậu các môn tự luận. Cần hạn chế tình trạng ra đề thi tập trung vào một nội dung giới hạn nhất định, tạo điều kiện cho sinh viên sao chép trong tài liệu, học vẹt mà không hề có tính tư duy, hiểu bài. Mục tiêu của các bài thi phải là để kiểm tra kết quả của việc sinh viên đến lớp nghe giảng và nghiên cứu thêm tài liệu chứ không chỉ để kiểm tra việc sinh viên học thuộc lòng nội dung được giới hạn trong giáo trình.

4.2. Kỹ năng

Chúng ta đã đầu tư rất nhiều cho việc đào tạo kỹ năng nghề cho sinh viên. Từ việc xây dựng cơ sở vật chất hiện đại, nhiều trang thiết bị phục vụ việc học và thực hành tại cơ sở, đến việc chú trọng nâng cao trình độ của đội ngũ giảng viên và nâng cao hiệu quả của việc kiến tập, thực tập ngoài trường học. Hiện nay, tại BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn, nhiều câu lạc bộ nghề nghiệp cũng được thành lập để hỗ trợ sinh viên trong việc rèn luyện kỹ năng. Tuy nhiên, do sinh viên chưa nhận rõ vai trò và ý nghĩa của chúng nên các câu lạc bộ này chưa có đủ sức lan tỏa.

Bên cạnh đó, ngoài khả năng thực hiện thuần thục một công việc nhất định (kỹ năng nghề) thì một sinh viên cần rất nhiều kỹ năng mềm khác để có thể được tuyển dụng và làm việc trong các doanh nghiệp như kỹ năng giao tiếp, trình bày, kỹ năng làm việc nhóm và tư duy sáng tạo, cải tiến trong công việc.

Việc thiếu kỹ năng mềm đã tạo nên một nhóm không nhỏ sinh viên “không biết dùng email”: không biết cách đặt tên tiêu đề email, không biết cách “viết” một email (do đã quen với việc thi trắc nghiệm từ khi còn học phổ thông), và không có thói quen tư duy, khi gặp bất cứ một vấn đề nào, các em đều bắt đầu bằng việc tìm kiếm trên mạng và bị kiến thức mà các em đọc được trên mạng dẫn dắt, dần dần, các em mất đi thói quen độc lập tư duy.

Và chính vì thiếu kỹ năng mềm, việc xin được một công việc như mong ước đối với các em cũng trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Các em không được dạy làm sao để làm một hồ sơ xin việc tốt, làm sao để viết một bức thư xin việc hoàn chỉnh, làm sao để xây dựng sơ yếu lý lịch tạo được ấn tượng với nhà tuyển dụng. Vì vậy, các em không có cơ hội thể hiện kỹ năng nghề nghiệp trước mặt nhà tuyển dụng. Du lịch là một nghề dịch vụ, tiếp xúc trực tiếp với khách, chính vì vậy mà kỹ năng mềm đóng vai trò vô cùng quan trọng. Không thể hiện được bản thân trước mặt nhà tuyển dụng, các em đã tự đánh mất cơ hội thể hiện năng lực nghề nghiệp của mình trước mặt khách hàng.

Chính vì tầm quan trọng của các kỹ năng mềm đối với công việc tương lai của sinh viên, ngay từ trong nhà trường, chúng ta cần lồng ghép nội dung về kỹ năng mềm vào quá trình học và thực hành của sinh viên, đồng thời thường xuyên nhắc nhở các em về việc tự hoàn thiện các kỹ năng của mình. Cần tổ chức các câu lạc bộ, đội nhóm, các trò chuyện về kỹ năng mềm để tạo động lực thúc đẩy sinh viên cũng như xây dựng môi trường thuận lợi cho các em trong việc rèn luyện kỹ năng.

Đối với việc thi kết thúc môn học kỹ năng, ngoài việc kiểm tra các em có thực hiện đúng thao tác hay không, cần chú trọng kiểm tra việc các em có hiểu quy trình làm việc, nhận thức đúng đắn về vai trò của kỹ năng mà mình đã được học đối với nghề nghiệp của mình hay không. Không giảng viên nào có thể dạy sinh viên của mình thành thạo một kỹ năng nào đó mà bản thân sinh viên đó không nỗ lực tự học, tự rèn luyện. Chỉ khi các em hiểu đúng, và hiểu rõ về tầm quan trọng của kỹ năng, các em mới có ý thức tự rèn luyện, học hỏi và hoàn thiện kỹ năng của mình. Đồng thời, các em sẽ không cảm thấy kỹ năng nào là thừa, công việc nào là thấp kém, bởi vì mỗi công việc đều có vai trò của nó, và đóng góp vào thành quả chung của quá trình làm việc. Nhờ đó, các em sẽ vui vẻ học tập và vui vẻ làm việc. Có như vậy thì sau khi ra trường, các em mới không ngại khó, không ngại khổ, để bắt đầu vào nghề từ những công việc bình thường, đơn giản nhất.

 

4.3. Thái độ

Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng sinh viên không nghiêm túc trong việc học tập chính là do thái độ đối với việc học của các em chưa tốt. Thái độ chi phối cách ứng xử, hành vi và tinh thần trách nhiệm. Vì các em chưa thật sự nghiêm túc với việc học, chưa thật sự nhận rõ vai trò của việc học, nên các em vẫn còn học đối phó, học cho xong. Đi học, các em chỉ mong thầy cô giới hạn nội dung thi càng ngắn càng tốt, cốt yếu là giúp các em thi đậu chứ không hề có ý thức về việc tự nghiên cứu, tìm tòi, trau dồi, rèn luyện. Cũng chính vì thái độ học tập chưa nghiêm túc mà các em thường đổ lỗi cho nhiều yếu tố khác nhau khi bản thân không vượt qua được kỳ thi, rồi sau đó lại đổ lỗi cho hoàn cảnh nên không vội đăng ký học lại, đến khi số lượng môn học chưa đạt lên đến 3-5 môn, các em bắt đầu cảm thấy chán nản và có ý định bỏ học.

Đây lại là nội dung mà chúng ta chưa thật sự quan tâm đúng mức. Trong mọi đề cương chi tiết được xây dựng, chúng ta đều chú trọng phần kiến thức, kỹ năng mà sinh viên có được sau khi kết thúc học phần, chúng ta chưa thật sự quan tâm đến việc thay đổi thái độ và tư duy nghề nghiệp cho sinh viên.

Điều đó dẫn đến thực tế là sinh viên chỉ cần thực hiện đúng thao tác, có thể viết đúng kiến thức trong đáp án vào bài thi, có thể đánh đúng vào đáp án đúng của câu hỏi trắc nghiệm là sinh viên đã có được điểm cao. Việc đánh giá điểm rèn luyện của sinh viên được tách ra với việc đào tạo thái độ cho sinh viên trong chính từng môn học. Ngay cả trong việc đánh giá kết quả rèn luyện, những nội dung được đánh giá cũng không gắn với việc xây dựng thái độ học tập, làm việc tích cực, đúng đắn cho sinh viên. Việc giảng viên nỗ lực lồng ghép nội dung về việc xây dựng thái độ tốt từ trong trường học cho sinh viên vào bài giảng, do thời gian còn hạn chế và nhiều nguyên nhân khách quan mà chưa đem lại hiệu quả đáng kể.

Bên cạnh đó, một thực tế đáng buồn là sinh viên đều xác định học để tìm được một công việc ổn định, thu nhập hấp dẫn, chứ không phải học để biết, để làm tốt, rồi từ việc “làm tốt công việc” đó, các em sẽ khẳng định được bản thân và được trả thù lao xứng đáng. Chính vì vậy, các em có xu hướng tin tưởng những người đang hỗ trợ các em trong công việc, những người đi trước trong công việc hơn là tin tưởng kinh nghiệm của giảng viên. Điều đó dẫn tới việc nỗ lực thay đổi thái độ cho các em của giảng viên trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Vì thế, việc các cấp quản lý, lãnh đạo hỗ trợ trong việc định hướng tư duy nghề nghiệp cho các em là một việc vô cùng quan trọng. Thông qua việc tổ chức các buổi nói chuyện nghề nghiệp, gặp gỡ đại diện các doanh nghiệp du lịch, những người có tâm với thế hệ trẻ, để định hướng tư duy nghề nghiệp đúng đắn cho các em. Cũng từ đó, giúp các em chọn lọc thông tin và xác định mục tiêu nghề nghiệp, để có động lực phấn đấu. Việc tổ chức các buổi gặp gỡ, trò chuyện, xây dựng cầu nối giữa sinh viên với doanh nghiệp, với cựu sinh viên thành công của khoa sẽ là cầu nối để sinh viên có thêm thông tin, đồng thời rèn luyện sự tự tin, chủ động thể hiện bản thân cho các em.

Bên cạnh đó, cần chú trọng vai trò của cố vấn học tập. Cố vấn học tập phải là người đúng chuyên ngành, nhằm hỗ trợ các em hiểu hơn về nghề nghiệp mà các em đã lựa chọn theo học, đồng thời thông qua kinh nghiệm của mình, cố vấn học tập sẽ tư vấn cho các em về việc tự rèn luyện các kỹ năng mềm giúp đáp ứng nhu cầu của các nhà tuyển dụng. Hiện tại, nhà trường đã có đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, tuy nhiên giáo viên chủ nhiệm chỉ là nơi để sinh viên chia sẻ về những khó khăn trong thủ tục hành chính, ít sinh viên nhờ sự hỗ trợ của giáo viên chủ nhiệm trong việc phát triển nghề nghiệp của mình. Một phần nguyên nhân là do sinh viên chưa có đủ tính chủ động trong việc tìm hiểu thông tin, một phần khác, theo các em chia sẻ, là do “không biết gì cả nên không biết bắt đầu hỏi từ đâu”. Việc tiếp xúc với các cố vấn học tập, để được tư vấn thông tin từ khi vừa bước chân vào trường sẽ giúp các em có hình dung rõ ràng hơn về công việc mà mình sẽ làm sau khi ra trường, và xác định được những kiến thức, kỹ năng mình cần có để có thể làm tốt công việc đó. Cố vấn học tập cũng sẽ hỗ trợ các em trong việc lên kế hoạch để học và tự học nhằm đạt đến từng mục tiêu của mình.

Và cuối cùng, cũng là điều quan trọng nhất, chính là việc chính những người làm công tác đào tạo, cần thay đổi tư duy của mình. Thay vì cố gắng nhồi nhét kiến thức vào đầu sinh viên, chúng ta cần xác định nhiệm vụ của chúng ta là hệ thống kiến thức và định hướng cho sinh viên tự học, tự nghiên cứu và kiểm chứng kiến thức được học, đồng thời chỉ rõ cho sinh viên thấy vai trò của những kiến thức đó với công việc của các em trong tương lai, để các em tìm cách liên hệ, vận dụng kiến thức đó vào thực tiễn. Giảng viên không phải là những cỗ máy đọc chép, giảng viên là người giúp sinh viên hiểu đúng kiến thức được viết trong giáo trình, đồng thời giảng viên là người đi trước, là người hiểu rõ về nghề nghiệp, là người truyền đạt cho các em những nội dung mà các em không thể đọc được trong giáo trình. Và trước khi các em nhận ra vai trò của việc học, chúng ta cần ép các em nghe giảng, bằng cách điều chỉnh đề thi, những sinh viên không nghe giảng sẽ không thể có được điểm số tốt.

5. Kết luận

Chúng ta có thể mất vài tuần, hoặc vài tháng, thậm chí vài năm để dạy một người học biết cách làm một công việc nào đó, nhưng để xây dựng được cho họ một thái độ làm việc tích cực, và trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết để họ ứng xử với công việc thật linh hoạt thì cần rất nhiều thời gian. Mong rằng với những nỗ lực không mệt mỏi của nhà trường trong việc đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo, những sinh viên tốt nghiệp từ BQLĐATL Trường Đại học Du lịch Sài Gòn sẽ không chỉ giỏi nghề mà còn thuyết phục được các nhà tuyển dụng bằng chính những kỹ năng mềm mà họ học được tại trường, để mỗi sinh viên, đều mang trong mình niềm tự hào vì mình đã được đào tạo từ môi trường tốt nhất.

 

Tài liệu tham khảo

http://careerbuilder.vn/vi/talentcommunity/pham-chat-can-thiet-cua-nguoi-xin-viec.35A4F55F.html

http://www.caodangvietmy.edu.vn/kien-thuc-ky-nang-thai-dau-moi-la-yeu-gay-tuong-voi-nha-tuyen-dung/

Các tin khác